Sự bền bỉ và nhiệt thành là thước đo của một hành trình rực rỡ
Bởi Vũ Thanh Tú - Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi bước vào lớp. Vẫn là dáng vẻ gương mẫu của một giáo viên, nhưng lần này lớp học cách nhà tôi hơn 3 nghìn dặm. Tôi chợt nhận ra ngày đầu tiên trong hành trình tình nguyện dạy học tại Surakarta, Indonesia đã chính thức bắt đầu. Ngay khi viết tên mình lên bảng và vẽ lá cờ Việt Nam bằng tất cả niềm tự hào, các em học sinh liền tỏ ra bối rối. “Cô ấy làm gì thế nhỉ? Cô Ratna hôm nay không dạy chúng em nữa sao?”. Những ánh mắt tò mò đồng loạt hướng về phía tôi. Khoảnh khắc ấy khiến tôi chững lại ngay từ những phút đầu tiên.

Tôi bắt đầu hoài nghi từng phần trong giáo án buổi học mà mình đã lên kế hoạch. “Liệu các em có sẵn sàng đồng hành cùng mình không? Những hoạt động này có đủ thú vị không? Liệu các em có mạnh dạn trả lời câu hỏi của mình không? Hay các em sẽ cơ bản chẳng hiểu mình đang cố gắng truyền đạt điều gì?. Và thay vì cô giáo tên Ratna thân thương ấy thì việc mình tiếp quản lớp học có khiến chúng trở nên chán ghét tiết học này không?”

Với những suy nghĩ ấy, tôi quyết định dồn hết phần năng lượng còn lại trong ngày để truyền tải kiến thức bằng ngôn ngữ cơ thể nhiều hơn là lời nói, với hy vọng những điều mình muốn dạy sẽ dần được khắc sâu vào tâm trí các em một cách tự nhiên nhất. Nhưng rồi bầu không khí ngượng ngùng và có phần gượng gạo ấy cứ thế kéo dài suốt nửa tiếng đồng hồ.

Lúc này bộ óc nhỏ của tôi đang xoay sở trong 2 luồng suy nghĩ tách biệt: một phần điều khiển cơ thể tôi tiếp tục đứng lớp và giảng dạy, phần còn lại thì quay cuồng tìm kiếm một điều gì đó có thể khơi dậy sự hứng thú của lũ trẻ giữa mớ hỗn độn ấy. Vậy là một nửa trong tôi như được lập trình sẵn với trình tự kiến thức đã được định sẵn trong giáo án, nửa còn lại cố gắng đi tìm thứ gì đó thực tế và sáng tạo hơn.

Và rồi tôi quyết định chấm dứt những dòng suy nghĩ đó chỉ bằng một cú nhấp trên bàn phím laptop. “Click”. Một bài hát thiếu nhi có giai điệu vui nhộn vang lên. Các em bắt đầu nhảy và hát theo điệu nhạc. Bỗng trong lúc ấy, tôi cũng có vài giây để dừng lại, ngắm nhìn từng gương mặt trước mắt. Trong ánh mắt các em dường như tràn ngập sự háo hức và bằng một cách nào đó, tôi cảm nhận được chúng ánh lên vài tia hy vọng.

“Cô ơi, bao giờ chúng mình lại được học cùng nhau ạ?”, các em hỏi tôi bằng tiếng Indonesia.

Lại một lần nữa tôi sững người.

Chỉ mới vài giờ trước thôi, nhiều em còn chẳng biết tiếng Anh thực sự là gì. Vậy mà giờ đây, các em đã bắt đầu mong chờ đến buổi học tiếp theo của tôi. Các em muốn học tiếng Anh để có thể trực tiếp trò chuyện với tôi mà không cần nhờ đến bất kỳ ai phiên dịch. Các em cố gắng bập bẹ thứ tiếng Anh vụng về, cùng với cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt điều mình muốn nói với tôi một cách trực tiếp. Và cứ thế các em bắt đầu thật sự giao tiếp với tôi và tham gia đóng góp ý kiến trong lớp học.

Điều khiến tôi nhớ mãi không phải là việc các em học được bao nhiêu từ vựng hay cấu trúc mới, mà là khi tôi nhìn thấy trong những đôi mắt ngây thơ ấy niềm hy vọng và sự mong chờ được quay trở lại lớp học của tôi vào những tuần tiếp theo. Giữa chúng tôi dần hình thành một sợi dây kết nối vô hình từ lúc nào không hay.

Thấm thoắt 4 tuần gần như sắp kết thúc. Quỹ thời gian của tôi ở Surakarta không còn nhiều nữa, nhưng nó lại tỉ lệ nghịch với tình yêu của tôi dành cho con người nơi đây. Khi về Việt Nam rồi, tôi lại nhớ những cái ôm tạm biệt da diết của lũ trẻ, những lần được gia đình cô chủ nhà đưa đi đây đó khám phá và cả những lần tôi đã “tự” làm mọi thứ.

Có lẽ nếu tôi đã không dám bước ra khỏi vùng an toàn thì giờ đây tôi đã không hề biết thế giới ngoài kia đẹp đến nhường nào.
← Quay về Trang chủBình chọn cho bài thi (Facebook)
Bằng cách nhấp vào “Chấp nhận”, bạn đồng ý với việc lưu trữ cookie trên thiết bị của mình để tăng cường điều hướng trang web, phân tích việc sử dụng trang web và hỗ trợ các nỗ lực tiếp thị của chúng tôi. Xem Chính sách bảo mật của chúng tôi để biết thêm thông tin.